VIÊM CO RÚT KHỚP VAI

Viêm co rút khớp vai (Adhesive capsulitis) hay viêm cứng khớp vai là bệnh có biểu hiện đau và giới hạn ở vận động ở khớp vai. Biên độ vận động khớp bị giới hạn không chỉ do bệnh nhân bi mất khả năng mà kể cả khi được bác sĩ thăm khám khi bệnh nhân thả lỏng (do dính khớp). Tình trạng này dẫn đến mất ngủ do đau, mất chức năng khớp vai, bệnh nhân không thể thực hiện các động tác bình thường trong sinh hoạt hằng ngày như chải đầu, cài áo ngực (nữ), mặc áo thun... 

 Viêm co rút khớp vai (Adhesive capsulitis) hay viêm cứng khớp vai là bệnh có biểu hiện đau và giới hạn ở vận động ở khớp vai. Biên độ vận động bị giới hạn không chỉ do bệnh nhân bi mất khả năng mà kể cả khi được bác sĩ thăm khám khi bệnh nhân thả lỏng (do dính khớp). Tình trạng này dẫn đến mất ngủ do đau, mất chức năng khớp vai, bệnh nhân không thể thực hiện các động tác bình thường trong sinh hoạt hằng ngày như chải đầu, cài áo ngực (nữ), mặc áo thun... 

 Nguyên nhân của bệnh này thường là hậu quả của các bệnh lý khác ở khớp vai như: rách gân cơ chóp xoay, viêm gân chóp xoay, rách sụn viền (SLAP), can-xi hóa gân trên gai... đặc biệt thường gặp ở bệnh nhân tiểu đường ( đái tháo đường), chấn thương phải bất động khớp lâu ngày (gãy đầu trên xương cánh tay, trật khớp vai...), bệnh nhân phẫu thuật vùng ngực... 
Phương tiện chẩn đoán thường dùng là chụp cộng hưởng từ (MRI) khớp vai, đây là phương pháp ít xâm hại giúp đáng giá mức độ viêm dính, co rút của bao khớp vai, đồng thời giúp phát hiện bệnh lý khác ở khớp vai như vôi hóa gân, rách gân, rách sụn viền... Các phương tiện khác vẫn rất hữu ít như siêu âm, x quang khớp vai.
 

Điều trị bao gồm dùng thuốc kháng viêm ( celecoxib, meloxicam...) và vật lý trị liệu (VLTL) vùng vai tích cực. Thời gian tập tốt nhất là 2 lần trong ngày, có thể cần tập kéo dài trong nhiều tháng để phục hồi. VLTL  bao gồm các bài tập căng dãn khớp thụ động, siêu âm chống dính, chiếu đèn, chườm đá... đôi khi bác sĩ chỉ định tiêm cortisone giảm sưng viêm vai, giúp khớp vai co duỗi dễ dàng hơn. Trong quá trình tập cần chú ý tránh để bị rớt tay , động tác giật đột ngột, hay nâng vật năng có thể làm khớp viêm nặng hơn.

Nếu tình trạng co rút khớp nặng, tập VLTL không hiệu quả( thường sau 4-8 tháng từ lúc khởi bệnh) bác sĩ sẽ chỉ định cho bệnh nhân phẫu thuật nội soi khớp vai để cắt lọc mô viêm, cắt rông bao khớp. Nếu có các tổn thương khác như rách gân, rách sụn thì cũng sẽ được khâu lại trong lúc mổ. Sau mổ bệnh nhân vẫn cần tập VLTL theo phát đồ của bác sĩ.

Để tránh bệnh lý này, khi chẳng may bị chấn thương hay viêm  vùng khớp vai, bệnh nhân cần được chuẩn đoán và  tuân thủ theo phương pháp điều trị với chương trình tập luyện thích hợp. 

 

 

 .