HỘI CHỨNG CHÈN ÉP DƯỚI MỎM CÙNG VAI

GIỚI THIỆU

Hội chứng chèn ép dưới mỏm cùng vai là tình trạng khoang giữa mỏm cùng vai và các gân cơ chóp xoay bị thu hẹp, tình trạng này dẫn đến các bệnh lý vùng vai như: Viêm túi hoạt dịch, viêm gân, viêm khớp và tổn thương gân cơ chóp xoay. Một trong những dấu hiệu thường gặp của hội chứng chèn ép dưới mỏm cùng là cảm thấy khó chịu hay đau vùng vai khi làm các động tác đưa tay lên đầu.

 

Nguyên nhân

Các nhân viên, người lao động thường xuyên phải dang tay qua đầu do đòi hỏi của công việc hay các vận động viên chơi các môn thể thao có động tác ném là chủ yếu là người dễ bị hội chứng chèn ép dưới mỏm cùng vai. Các hoạt động dang tay cao trên đầu tạo nên sự áp lực ép lên gân chóp xoay, một khi các động tác này lập đi lập lại nhiều lần sẽ dẫn đến hội chứng này.

Về mặt cấu trúc giải phẫu, chóp xoay được tạo nên bởi dải gân bốn cơ hòa vào nhau giúp giữ vũng khớp vai . Các gân này đi bên dưới mỏm cùng xương bả vai, sẽ căng ra khi chúng tay dang và xoay cánh tay, giúp giữ yên chỏm xương cánh tay vào ổ chảo. Túi hoạt dịch nằm giữa gân chóp xoay và mỏm cùng vai có tác dụng bôi trơn, giúp hạn chế lực ma sát giữa hai cấu trú này khi cử động khớp vai

Khi khoảng cách giữa chóp xoay bên dưới và mỏm cùng vai phía trên bị hẹp thì  chóp xoay, một phần sụn khớp chỏm xương cánh tay và túi hoạt dịch đều bị chèn ép. Hậu quả dẫn đến viêm chóp xoay, viêm túi hoạt dịch, viêm khớp. Các tình trạng viêm trên liên quan nhân quả với hội chứng chèn ép dưới mỏm cùng vai, ngoài ra rách gân chóp xoay cũng là hậu quả của hội chứng chèn ép dưới mỏm cùng do nó làm yếu gân chóp xoay từ đó chóp xoay dễ bị tổn thương. 

Một nguyên nhân khác dẫn đến hội chứng chèn ép dưới mỏm cùng vai là sự hình thành các gai xương, các gai xương này làm hẹp khoang dưới mỏm cùng, khớp cùng đòn cũng bị tổn thương do túi hoạt dịch bị viêm gây ra và làm nặng thêm hội chứng chèn ép dưới mỏm cùng vai.

Triệu chứng của hội chứng chèn ép dưới mỏm cùng vai ?

Khi bị hội chứng chèn ép dưới mỏm cùng vai, bệnh nhân có biểu hiện đau ở khớp vai khi dang tay hay đưa trước cánh tay. Hầu hết bệnh nhân than phiền bị khó ngủ do bị đau khi nằm nghiêng qua bên vai bị đau. Khi có cơn đau chói xuất hiện khi cố gắng xoay tay ra túi quấn phía sau là dấu hiệu khá rõ ràng của hội chứng chèn ép dưới mỏm cùng vai. Dần dần các cơn đau trở nên nặng hơn, bênh nhân không dám cử động vai dẫn đến khớp vai bị cứng. Nếu vai trở nên yếu và bệnh nhân không thể tự dang tay được thì có thể gân chóp xoay đã bị rách.

Điều trị

            Khi nghi ngờ hội chứng chèn ép dưới mỏm cùng vai, bác sĩ sẽ hỏi bệnh sử, nghề nghiệp, hoạt động  của bạn nhằm tìm hiểu tính chất của cơn đau. Các động tác thăm khám nhằm tìm ra dấu hiệu của hội chứng chèn ép dưới mỏm cùng vai cũng như có hay không tình trạng viêm gân, viêm túi hoạt dịch, viêm khớp hay rách chóp xoay đi kèm.

Chụp x quang khớp vai là cần thiết để tìm các dấu hiệu bất thường của cấu trúc xương hay viêm khớp. Một số người có tình trạng mỏm cùng hạ thấp hơn so với bình thường làm hẹp khoang dưới mỏm cùng  được xác định trên x quang. Gai xương nếu có cũng sẽ thấy rõ trên x quang.

Chụp MRI được chỉ định khi nghi ngờ có tổn thương rách chóp xoay, viêm gân hay bệnh lý ở sụn viền. Đôi khi siêu âm vùng vai cũng cho thấy được hình ảnh rách chóp xoay.   

Một nghiệm pháp được sử dụng nhằm loại trừ các bệnh lý ở vùng cổ gây đau ở khớp vai: Tiêm một lượng thuốc tê nhất định vào khoang dưới mỏm cùng , nếu bệnh nhân đỡ đau ngay thì nguyên nhân gây đau vai là do hội chứng chèn ép dưới mỏm cùng vai.

Giai đoạn đầu điều trị sẽ là điều trị giảm đau, kháng viêm. Các phương pháp thường sử dụng là nghĩ ngơi, chườm đá phối hợp với thuốc kháng viêm như aspirin, naproxen, diclofenac… Bác sĩ sẽ theo dõi đáp ứng của bệnh nhân, trong một số trường hợp có thể sử dụng các phương pháp như siêu âm, chiếu tia hồng ngoại để tăng cường lượng máu tới các mô ở khớp vai. Khi bệnh nhân đỡ đau sẽ tiến hành các bài tập vật lý trị liệu.

Nếu các biện pháp trên không mang lại hiệu quả, bác sĩ có thể tiêm steroid trực tiếp vào khoang dưới mỏm cùng. Tuy nhiên steroid có thể gây đứt gân cũng như các tác dụng phụ về lâu dài nên không nó không phải là phương pháp điều trị lâu dài cho hội chứng chèn ép dưới mỏm cùng vai cũng như các bệnh lý khác ở vùng vai.

Phẫu thuật được chỉ định khi không có cải thiện nào sau 6 tháng đến 1 năm điều trị bảo tồn.  Có hai phương pháp hiện đang được sử dụng là mổ mở và mổ nội soi, cả hai phương pháp  đều có thể sửa chửa các tổn thương và làm giảm áp lực đè ép lên túi hoạt dịch và chóp xoay.

Mục tiêu của phẫu thuật là nhằm rộng khoảng cách giữa mỏm cùng và gân chóp xoay ( Tạo hình khoang dưới mỏm cùng). Các gai xương cũng như một phần mỏm cùng sẽ được mài đi để tạo lại khoang dưới mỏm cùng đủ rộng cho chóp xoay di chuyển. Các tổn thương chóp xoay nếu có sẽ được tái tạo đồng thời.

Ngày nay phẫu thuật nội soi được ưa chuộng hơn cả do sẹo mổ nhỏ, bệnh nhân ít đau hơn nên tập phục hồi chức năng dễ dàng hơn. Nội soi cho phép thám sát rộng rãi khớp vai và sửa chữa các tổn thương khác dễ dàng hơn, thời gian nằm viện ngắn hơn. Nhược điểm duy nhất là chi phí phẫu thuật tốn kém hơn so với mổ.

Sau mổ cánh tay sẽ được treo hay mang nẹp để bất động. Hầu hết các trường hợp sẽ được tập vật lý trị liệu nhằm tránh cứng khớp, hạn chế phù nề sau mổ. Chườm lạnh sau mổ giúp co mạch máu làm hạn chế phản ứng viêm đau sau mổ. Giai đoạn sau là tập mạnh gân cơ chóp xoay. Cần tập phục hồi chức năng theo sự hướng dẫn của kỹ thuật viên vật lý trị liệu.

Kết quả sau cùng của chức năng khớp vai không chỉ phụ thuộc vào kết quả của cuộc mổ mà còn phụ thuộc nhiều vào thể trạng cũng như nổ lực tập phục hồi chức năng của người bệnh. Gân cơ vùng vai đã bị yếu đi sau một thời gian dài không sử dụng và bị thoái hóa nên khi tập mạnh lại cần một thời gian nhất định, các bài tập nên tiến hành từ từ và đôi khi phải thay đổi thoái quen sử dụng cánh tay.